Dán cái gì vào cái gì? Những sản phẩm và kỹ thuật được minh chứng dài hạn

Người dịch: Bác sỹ Tạ Khánh Thư

Nguồn: CR-June 2015, Volume 8 Issue 6

Gordon’s Clinical Bottom Line: Việc dán vào nhiều loại vật liệu nha khoa và vào cấu trúc răng vốn là một chủ đề gây khó chịu trong 60 năm. Những keo dán trước hết được thử nghiệm in-vitro dễ dàng đo đạc được và thường gây ấn tượng, trong khi những keo dán thử nghiệm dài hạn in-vivo thường cho thấy các vấn đề về sự giảm hiệu quả và những thất bại lâm sàng. Các nhà khoa học của CR đã thu thập dữ liệu của các loại keo dán in-vivo trong nhiều thập kỷ. Những nhà đánh giá lâm sàng của CR và các bác sỹ làm việc theo nhóm có cả bằng chứng khoa học và những quan sát thực nghiệm về keo dán, điều sẽ hỗ trợ quý vị trong việc đưa ra các quyết định trên lâm sàng. Bài báo cáo sau chia sẻ cái nhìn tổng quan này về keo dán cũng như có những đề xuất về lâm sàng dành cho quý vị.


• Dễ sử dụng: Những keo dán Universal và những xi măng tự dính đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây do dễ sử dụng, nhưng trong một số trường hợp, vấn đề là gây tổn hại đến màn trình diễn trên lâm sàng.
• Bong keo dán tiếp tục xảy ra ở những phục hồi trực tiếp và gián tiếp và có thể liên quan đến công thức sản phẩm và/hoặc kỹ thuật lâm sàng không đúng.
• Sự rã keo dán vào ngà đã và tiếp tục là một trong những mối lo ngại lớn nhất về khả năng lưu giữ đối với những bác sỹ lâm sàng.
• Sự bong keo dán vào men thì không thường xuyên.
• Khả năng dán cực kì cao nhờ xi măng resin (thường được bổ sung với keo dán riêng) không phải luôn luôn cần thiết hoặc như mong đợi. Ví dụ, dán những phục hồi gián tiếp bằng xi măng glass ionomer resin biến đổi (RMGI) mang lại khả năng dính tốt về dài hạn với kỹ thuật lâm sàng đúng, và có thêm những ưu điểm hữu ích nhờ phóng thích fluor và dễ tháo hơn.


Báo cáo này tóm tắt tình hình sử dụng keo dán và xi măng hiện nay, và bao gồm: một bảng tóm tắt các sản phẩm và kỹ thuật đã được kiểm chứng dài hạn; những mẹo lâm sàng để sử dụng hiệu quả các loại keo dán và xi măng; và những kết luận của CR.

Những sản phẩm đã được kiểm chứng dùng để dán phục hồi
Bảng dưới đây thể hiện một hướng dẫn tham khảo nhanh những tác nhân dán phục hồi-vào-răng phổ biến nhất gặp trong nha khoa phục hồi, với các sản phẩm được đề nghị nhằm có được tác dụng dính lâu dài đã được chứng minh trên lâm sàng qua nhiều năm phục vụ. Những bình luận của CR liên quan đến từng tình huống và những câu hỏi tương ứng vẫn cần những câu trả lời lâm sàng cũng bao gồm trong bảng.

Độc giả được khuyến cáo nên xem qua kết quả của cuộc khảo sát của CR về khả năng dán dính dài hạn, trực tuyến trên www.CliniciansReport.org.

Composite gốc nhựa
• Những sản phẩm đã được minh chứng về khả năng dán dài hạn: Những sản phẩm cũ đã được chứng minh như các loại keo dán thế hệ 5/6. Ví dụ: Clearfil SE Bond (Kuraray), Brush & Bond (Parkell), OptiBond Solo Plus (Kerr), Prime & Bond NT (Dentsply Caulk)
• Những bình luận của CR: Sự ra đời của cả keo dán thế hệ thứ 7 và keo dán "đa năng" trong thập kỷ qua đã làm tăng tính dễ sử dụng, nhưng điều này chưa được chứng minh vượt trội so với các sản phẩm thế hệ trước. Nhiều bác sỹ hiện nay sử dụng keo dán đa năng dựa trên những dữ liệu in-vitro khả quan và/hoặc nhiều năm sử dụng trên lâm sàng, nhưng tuổi thọ dán dính của các loại keo này vẫn còn đang được nghiên cứu.
• Các câu hỏi cần trả lời: Các keo dán đa năng (ví dụ, Scotchbond Universal Adhesive của 3M ESPE, OptiBond XTR của Kerr, Clearfil SE Bond 2 của Kuraray) có làm tăng độ tin cậy khi dán ngà so với các sản phẩm có sẵn trước đây không?
Zirconia

• Những sản phẩm đã được minh chứng về khả năng dán dài hạn: Xi măng glass ionomer resin biến đổi(RMGI). Ví dụ: RelyX Luting Plus (3M ESPE), GC FujiCEM 2 (GC America), Nexus RMGI (Kerr)
• Những bình luận của CR: Vì zirconia cực kỳ cứng, với kỹ thuật lâm sàng thích hợp, các xi măng RMGI đã được chứng minh mang lại sức dán dài hạn và lợi ích bổ sung nhờ phóng thích fluor. Đối với các cùi răng không lưu, cần một sức dán cao hơn và nhiều loại xi măng nhựa có thể đáp ứng tốt (như, Multilink Automix của Ivoclar Vivadent, Panavia F 2.0 của Kuraray). Cho dù khả năng lưu của cùi răng như thế nào, việc xử lý mặt trong phục hồi bao gồm thổi cát hay làm nhám bằng mũi khoan kim cương, kèm với bôi primer MDP (như, Clearfil Ceramic Primer by Kuraray, Z-Prime Plus by Bisco) được khuyên dùng.
• Các câu hỏi cần trả lời: Việc dán zirconia có thể đạt được tuổi thọ lâu như dán kim loại không? Những công thức zirconia trong suốt mới dẫn đến sự khác biệt về tuổi thọ của keo dán như thế nào?

Lithium disilicate (như, IPS e.max CAD/Press)

• Những sản phẩm đã được minh chứng về khả năng dán dài hạn: Đối với hầu hết các trường hợp, nhiều xi măng nhựa tự xoi mòn được chỉ định (như: : Multilink Automix của Ivoclar Vivadent, Panavia F 2.0 của Kuraray, Duo-Link SE của Bisco). Khả năng dán dính dài hạn của các loại xi măng tự dính phổ biến là đầy hứa hẹn nhưng vẫn đang được nghiên cứu (như: RelyX Unicem 2 của 3M ESPE, Maxcem Elite của Kerr). Để lựa chọn phục hình mão có độ dày mặt nhai từ 1,5 mm trở lên (đủ độ cứng), xi măng glass ionomer resin biến đổi (RMGI) có thể được dùng như một sự thay thế (như: RelyX Luting Plus của 3M ESPE, GC FujiCEM 2 của GC America, Nexus RMGI của Kerr).
• Những bình luận của CR: Mặc dù không cứng như zirconia, lithium disilicate vẫn trình diễn tốt trên lâm sàng đối với các đơn vị lẻ. Xử lý thích hợp mặt trong phục hồi với chất xoi mòn axít hydrofluoric và bôi silane primer là cần thiết để đạt được sức dán dài hạn.
• Các câu hỏi cần trả lời:  Liệu các loại xi măng tự dính mới hơn (như, RelyX Unicem 2 của 3M ESPE, Maxcem Elite của Kerr) có duy trì sức dán dài hạn tương đương hoặc tốt hơn các loại xi măng resin tự xoi mòn đã được chứng minh dành cho những phục hình lithium disilicate không? (xem Clinicians Report tháng Năm năm 2015)

Kim loại

• Những sản phẩm đã được minh chứng về khả năng dán dài hạn: Xi măng glass ionomer resin biến đổi (RMGI). Ví dụ: RelyX Luting Plus (3M ESPE), GC FujiCEM 2 (GC America), Nexus RMGI (Kerr).
• Những bình luận của CR: Khả năng nhìn chung và thành công dài hạn trên lâm sàng của phục hồi gián tiếp bằng kim loại quý làm các phục hồi này tiếp tục được khuyến khích sử dụng và khả năng dán dài hạn đã được chứng minh khi sử dụng xi măng RMGI, có thêm lợi ích nhờ phóng thích fluoride. Mặc dù việc dán vào kim loại thường rất tốt, những phản ứng dị ứng với kim loại thường không khuyến khích việc sử dụng. Tạo những cùi răng lưu(như, có lẹm) và xử lý mặt trong phục hồi với một primer MDP (như, Z-Prime Plus của Bisco, Alloy Primer của Kuraray) là những tùy chọn để bổ sung khả năng lưu của phục hồi.

Hybrid ceramic (như, Lava Ultimate)

• Những sản phẩm đã được minh chứng về khả năng dán dài hạn: Chưa biết (do đặc tính tương đối mới của vật liệu phục hồi), mặc dù RelyX Unicem 2 và RelyX Ultimate của 3M ESPE đang tương đối phổ biến.
 • Những bình luận của CR: Nhiều thương hiệu vật liệu lai sứ (thành phần là nhựa và sứ) đã được đưa ra trong vòng 2-3 năm qua, do đó không đủ thời gian để đánh giá đầy đủ khả năng dán dính dài hạn trên lâm sàng. Vì tổ chức CR cũng như những đơn vị khác đã nghiên cứu thêm về lĩnh vực này, nên thông tin bổ sung sẽ được công bố trong những chuyên mục sắp tới của Clinicians Report.
• Các câu hỏi cần trả lời: Những loại xi măng nào là đáng tin cậy về khả năng dán dính dài hạn? Độ cứng của loại vật liệu phục hồi này có đủ cao để cho phép sử dụng các xi măng RMGI ? Những vật liệu phục hồi này mòn như thế nào theo thời gian và điều này  ảnh hưởng như thế nào đến lớp keo dán bên dưới?

 

Mẹo lâm sàng 
• Lưu cơ học được khuyến khích ở những vùng cần thiết. Đối với các xoang trám: tạo lẹm, lỗ, rãnh, vv cũng như tạo hiệu ứng vòng thích hợp. Đối với phục hình gián tiếp: làm nhám mặt trong của phục hồi cũng làm tăng diện tích bề mặt dán. Kết quả khảo sát của CR cho thấy bong keo dán ở xoang V là phổ biến nhất; lưu cơ học giúp giảm thiểu nguy cơ này. Xem Clinicians Report tháng Bảy năm 2012 và tháng Hai năm 2014.
• Khử nhiễm máu và nước bọt bề mặt trước khi đặt xi măng hoặc bôi keo dán. Ivoclean bởi Ivoclar Vivadent có thể được sử dụng để khử nhiễm bên trong phục hình gián tiếp sau khi thử. Kỹ thuật thổi khô là rất cần thiết để tối đa hóa khả năng dán và giảm thiểu nhiễm bẩn (xem Clinicians Report tháng Năm năm 2015).
•Chỉ xoi mòn trên men bằng axit photphoric làm tăng lưu giữ.
•Bôi chất chống ê glutaraldehyde/HEMA trước khi dán để làm giảm độ nhạy cảm ngà răng; không ảnh hưởng nhiều đến sức dán. Xem Clinicians Report tháng Mười một năm 2009.
• Hai lớp keo dán cho phục hình trực tiếp đảm bảo phủ hết  ống ngà và tạo được bề mặt dán đồng nhất. Thổi hơi nhẹ và hút để loại bỏ phần keo dư.
• Bôi thêm keo dán lưỡng trùng hợp trước khi gắn xi măng resin  (như Scotchbond Universal với bộ kích hoạt lưỡng trùng hợp của 3M ESPE) có thể làm tăng sức dán nói  chung. Xem Clinicians Report tháng năm 2015.
• Quan sát bề mặt (răng hoặc phục hồi) xảy ra sự bong keo để sửa đổi quy trình cho phục hồi trong tương lai.

Kết luận của CR: Việc bong keo dán các phục hình trực tiếp và gián tiếp trong khi phục vụ vẫn tiếp tục xảy ra, bất chấp những tiến bộ trong các công thức xi măng và vật liệu phục hồi. Dán men nhìn chung vẫn dễ tiên lượng hơn dán ngà. Lưu cơ học nên được bổ sung khi cần thiết. Sức dán dài hạn đã được chứng minh với việc lựa chọn sản phẩm (xem bảng trên), đặc biệt là RMGI cho zirconia và kim loại và xi măng resin với keo dán bổ sung cho lithium disilicate (ví dụ, IPS e.max CAD/Press), nhưng vẫn đang được nghiên cứu nhằm hướng tới những loại keo dán phổ thông và những xi măng tự dính mới.

Bài đọc trước Hướng dẫn răng trước ??? luôn luôn, không bao giờ, đôi khi ???
Bài đọc kế tiếp Tại sao Glutaraldehyde không chỉ dùng để chống ê buốt ??

Để lại bình luận

Bình luận phải được duyệt trước khi được đăng tải

* Bắt buộc